Tử Vi Đẩu Số

Thất Sát ở cung Thiên Di – ý nghĩa trong lá số Tử Vi

Những lời luận thường gặp nhất ở các lá số có Thất Sát tọa cung Thiên Di, chọn từ kho luận giải của ứng dụng. Lá số của bạn còn tùy các sao khác đồng cung và hội chiếu: lập lá số để xem lời giải đúng cho bạn.

Lập lá số của bạn

· Thất Sát hội sát — ra ngoài xung đột dễ leo thang, cần thận trọng.

· Thất Sát nhập cung Thiên Di — chủ ra ngoài tự lập, dựa vào thực lực mà đứng vững.

· Mệnh Tử Phủ, Thiên Di Thất Sát (Tử Phủ tọa viên) — luận theo hướng gần thiên tử, phò tá người ở ngôi cao, tách riêng với Thất Sát triều Đẩu.

· Toàn Thư, quyển một, Đẩu Số Cốt Tủy Phú: “Thất Sát, Phá Quân nên ra ngoài”

· Toàn Thư, quyển hai, mục Thiên Di: "Thất Sát ở ngoài nhiều ngày, ở nhà ít ngày; đồng Vũ Khúc thì trong cảnh động là tốt, đồng Liêm Trinh thì sinh tài ở ngoài, đồng Tử Vi thì ở ngoài phần nhiều toại chí; gia Kình, Đà, Hỏa, Linh, Không, Kiếp thì lại lo nghĩ bất an hoặc lưu lạc chân trời."

Thất Sát ở cung Thiên Di, ra ngoài tự đảm đương được một phía, hợp xông pha ở ngành cạnh tranh gay gắt, như quân cảnh, tài chính, bán hàng, khởi nghiệp. Sách nói Thất Sát “ngày ở ngoài nhiều, ngày ở nhà ít”, nghĩa là thời gian ở ngoài nhiều hơn hẳn thời gian ở nhà; đồng cung với Vũ Khúc là “trong động thì cát”, nghĩa là động lên mới thuận; đồng cung với Liêm Trinh là “ở ngoài sinh tài”, tức tiền kiếm ở nơi khác; đồng cung với Tử Vi là “ở ngoài hay toại chí”, nghĩa là ra ngoài mới dễ thực hiện hoài bão. Mấy điều này nói cùng một việc: bước ra ngoài thì thuận. Ở nơi khác dựa vào quyết đoán và thực lực để đứng chân. Nếu cung Mệnh đúng là Tử Vi, Thiên Phủ đồng cung ở cung Dần hoặc cung Thân (cung Thiên Di chính là Thất Sát), thì gọi là Tử Phủ tọa viên, luận theo gần thiên tử, phò tá bậc trên; cách này với cách Mệnh tọa Thất Sát, Tử Phủ ở Thiên Di tức “Thất Sát triều Đẩu” là hai đầu, phải xem riêng, và đều phải rơi vào độ tuổi tương xứng với thân phận thì mới nói như vậy; Toàn Thư, Cốt Tủy Phú ghi song song “Thất Sát triều Đẩu, tước lộc vinh xương; Tử Phủ đồng cung, suốt đời phúc dày”. Ngược lại, thêm Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp thì thành “lo nghĩ không yên hoặc phiêu bạt chân trời”, nghĩa là bôn ba bất định ở ngoài, trong lòng bất an, thị phi cũng nhiều.